Ngộ Không – Qingquan Zhao

Chủ biên: Hung Vu


Thú thật với các Bạn rằng ý tưởng của tác giả Qingquan Zhao cho tác phẩm “Ngộ Không” này có đôi chút khó hiểu.

Nếu cứ lấy theo lẽ thường tình của triết lý nhà Phật (Thiền tông) thì nghĩa đen của đề tài là “Vượt quá khoảng không” (Over the Void) cũng có nghĩa là “Hiểu được chốn Vô thường”. Tức là Giác Ngộ. Hay nói gọn là Ngộ.

Khoảng không ở đây vốn là nơi không có gì cả, là “khu vực vô tận”, “khoảng không biên giới”.

Chính những người thuộc dân tộc Âu Mỹ vốn đã hết sức bất ngờ về ý nghĩ chủa dân tộc châu Á (đặc biệt là Trung Hoa) với ý niệm về “khoảng không”. Vì với người Âu Mỹ, “khoảng không” (the void hay néant _ đọc là nê-ăng) vốn chả có gì để phải suy tưởng về nó cả. Nhưng đối với ngưởi học đạo (Lão giáo và Thiền) thì “khoảng không” là tất cả. Ngộ được “cái Không” (như tên của Tề Thiên Đại Thánh Tôn Ngộ Không) là hiểu được huyền cơ của Trời Đất. Cho nên, khi đạt mức “Ngộ Không”, có nghĩa là hiểu được Sống Chết.

Thế nhưng ở phần kết, khi diễn giải thêm ý về tác phẩm Ngộ Không, tác giả Qingquan Zhao có đề cập đến “thương cảm từ những mất mát do những anh hùng bỏ mình (trong chiến trận) đã gây ra những Khoảng Trống Quá To Lớn trong lòng người còn lại”. Đó là một tư tưởng lớn của thi ca Trung Hoa thời thế kỷ 18. Có lẽ là khoảng thời gian dân Trung Hoa (người Hán) bắt đầu loạn lạc triền miên và sau đó bị người Thanh đô hộ.

Vì thế, với mình, đề tài trở nên hơi khó hiểu!

Tuy nhiên, giữ nguyên ý nghĩ về Thiền, mình “tạm” dịch nghĩa đề tài là “Ngộ Không” (Over the Void).

Đề tài: Ngộ Không (Over the Void)
Loài cây: Tùng Juniper Shimpaku (Juniperus chinensis var. Sargentii)
Cao: 86cm
Tuổi: 30 năm

Đây là một cây Tùng Shimpaku mua từ Nhà Vườn khi cây đã khoảng 20 tuổi. Cây có thân ốm nghiêng, cao cỡ 150cm. Vốn đã có sẵn ý nghĩ về hình dạng một cây Tùng Shimpaku cho tác phẩm Ngộ Không, thế nên, gặp cây Tùng có dáng như hình dưới, tác giả đã mua ngay.

Việc uốn nắn đường thân được khởi sự từ năm 2003.

Thoạt tiên, cắt bỏ cành thừa cho lộ đường thân. Sau đó, 2 cọng giây đồng áp sát dọc thân. Kế tiếp là quấn dây dứa dại thật chặt Và uốn theo dạng thân đã định. Đoạn thân gần gốc, dùng một cảo uốn hỗ trợ.

2003

2005

Hai năm sau, 2005, đường thân cơ bản đã định hình. Tiếp theo là việc thiết kế chi tiết chi cành vùng ngọn. Việc quấn giây phần thân và chi cành vùng ngọn cụ thể như hình dưới đây. Phần thân chúi thẳng xuống cũng được dùng cảo tạo nét cong.

2005

2005

Sang năm 2007, cành trên bên trái được cạo tạo thành Jin. Thân cũng được cạo vỏ dọc thân để tạo “mạch lũa” (shari).

Việc tạo những đường gỗ chết cốt để chúng làm nổi những mạch sống ở thân và cành. Đó là nét đẹp đặc trưng của loài Tùng Shimpaku.

Đến năm 2010, tác giả nhận thấy phần cành Jin bên trái quá dài, có vẻ thiếu tự nhiên. Thế là nó được cắt ngắn còn mẩu cựa. Điều tinh giản này giúp tác phẩm thanh thoát hơn. Đồng thời, cây được chuyển vào chậu nhỏ hơn một chút.

Qua đến đầu năm 2014, cây được chuyển sang dĩa. Phần thiết kế tổng thể coi như đã hoàn tất. Trong tương lai, chăm cho cây phát triển.

Kế đó, tỉa mỏng thêm các vòm lá sẽ giúp cây hoàn toàn lộ rõ đường thân. Trong dáng Văn nhân ở Penjing, chính vì đường thân được phô ra trọn vẹn đã giúp tạo được nét đặc trưng, độc đáo của riêng từng tác phẩm.

Cuối cùng thì tác phẩm Ngộ Không được thể hiện vào cuối năm 2014 như sau.

Rất nhiều tác phẩm của ông Qingquan Zhao được cá nhân mình thưởng thức với tràn đầy lòng ngưỡng mộ và đồng cảm cùng tác giả. Những tác phẩm dáng Văn Nhân do ông Qingquan Zhao thực hiện lại càng khiến mình tăng thêm phần nể trọng và thích thú. Chúng thường luôn gợi trong mình những ý nghĩ cao đẹp của Lão giáo và Thiền tông.

Riêng với tác phẩm “Ngộ Không” ở trên, mình lại không cảm nhận được chút nét Thiền nào trong đó. Mình cũng chả hiểu tại sao?

Cũng có thể do hình dạng cây Tùng còn bị chút níu kéo gì đó do sự hiện diện ở cái cành gần gốc chăng? Đến chịu!

Riêng về mặt Kỹ thuật và Mỹ thuật, mình có đôi chút ý kiến thế này

Về Kỹ thuật, mình không chắc chắn về lý do tại sao tác giả lại phải đắp đất cho cao lên trong dĩa. Chứ bình thường thì một cây Tùng Shimpaku ở dáng Văn Nhân như tác phẩm Ngộ Không, số rễ đủ cho cây sống vốn không nhiều. Tức là, theo mình, bàu đất rễ của cây chỉ cần bằng 1/2 tới 2/3 bầu đất trong tác phẩm (Ngộ Không).

Cũng có thể bởi tác giả do phô ra tác phẩm Ngộ Không ở thời điểm vừa mới chuyển chậu, cho nên số rễ (gần chết) hãy còn hơi nhiều. Chứ còn nếu sau khoảng 1 đến 2 năm nữa, khi cây phát triển tốt, tác giả cắt bỏ bớt rễ già, chỉ giữ lại những rễ có chóp trắng, ắt là bầu đất sẽ “xẹp” bớt.

Mình nêu ý trên bởi kiểu mặt đất tròn như “đắp mộ” cho một cây Tùng Juniper (Shimpaku) là điều không mấy hay!

Với Tùng Juniper, mặt đất phẳng, hơi dốc sẽ luôn dễ coi hơn.

Chuyện kỹ thuật nêu trên có thể cũng do chuyện Mỹ thuật về bộ rễ cùa cây Tùng Shimpaku này chưa được tác giả xử lý kỹ. Thế nên, một vài rễ nhỏ phát sinh hơi cao ở gốc (cao hơn 2,3 rễ chính xòe ra ngay gốc) và tác giả muốn giữ lại, nên đã phải đắp đất lên cao, phủ gốc.

Chính chiếc rễ con ở mé phải gốc, dưới mắt mình, đã phần nào gây hỏng tác phẩm. Dẫu cho có thể tác giả thấy cần để lại chiếc rễ này cho phần “sinh lý cây” hay vì muốn cho gốc “có vẻ bè ra” chăng nữa, thì sự hiện diện của chiếc rễ con này thường “đồng nghĩa với ý tưởng: cây còn non trẻ”! Cây già thì chả phát rễ con ở vùng phía trên gốc.

Cuối cùng, về mặt Mỹ thuật ở vòm lá, mình vẫn có cảm giác: hai vòm lá trên và dưới (phần ngọn, cành vươn lên và cành ngả xuống) hơi cân bằng đối xứng quanh trục. Trông chúng chả khác gì 2 cánh quạt!

Thành thử, giá trong tương lai, sau khi cây đã hồi sức và phát triển, tác giả tỉa tót sao cho chúng mất tính cân bằng đối xứng thì chắc nhẹ nhàng, thuận mắt hơn.


You can leave a response, or trackback from your own site.

Leave a Reply